CHỨNG HẬU Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI THỜI ĐIỂM ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN
TÓM TẮT
“Bệnh thận mạn tính (Chronic Kidney Disease - CKD)” là thuật ngữ bổ sung cho định nghĩa suy thận mạn (Chronic Renal Failure - CRF), lần đầu tiên được sử dụng trong hướng dẫn chẩn đoán của Hội đồng Thận học Quốc gia Mỹ K/DOQI 2002 (Kidney Disease Outcome Quality Initiatives) [17]. Năm 2003, Hội Thận học Quốc tế KDIGO (Kidney Disease Improving Global Outcomes) bổ sung thêm tiêu chí người ghép thận như một nhóm CKD [14]. Bởi những chứng cứ liên quan đến khác biệt về tử vong, hướng dẫn mới năm 2012 của KDIGO đã khẳng định CKD là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài trên 3 tháng và ảnh hưởng lên sức khỏe người bệnh; đồng thời chia CKD thành 5 giai đoạn (G1, G2, G3a, G3b, G4, G5) dựa vào mức lọc cầu thận, kèm theo bổ sung Albumin niệu vào bảng phân loại nhằm hỗ trợ cho việc đánh giá tiên lượng và diễn biến bệnh [15]. Do tiến triển bệnh âm thầm, triệu chứng nghèo nàn, bệnh nhân thường ít quan tâm và suy thận chỉ được phát hiện khi đã ở vào giai đoạn cuối, lâm sàng rầm rộ với phù, khó thở và vô niệu [3]. Gần đây, một số thử nghiệm như SKS (2015) [20], VA (2016) [26], IDEAL (2017) [22], đã chứng minh không có sự khác biệt về nguy cơ tử vong [23] giữa nhóm được can thiệp sớm (mức lọc cầu thận ước đoán (eGFR) từ 10 – 15ml/phút/1,73m2) và nhóm can thiệp muộn (eGFR từ 5 – 7ml/phút/1,73m2) [11], đồng thời với việc các khuyến cáo lâm sàng hướng dẫn xem xét gánh nặng triệu chứng [15] để quyết định thời điểm bệnh nhân buộc phải điều trị thay thế thận (Renal Replacement Therapy - RRT) (thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc, ghép thận [4]) do đó đã hình thành nên những quan điểm khác nhau về việc sử dụng các ước lượng của sự lọc cầu thận như một hướng dẫn chính cho việc bắt đầu chạy thận duy trì [18].
Bởi những đặc thù của lịch sử, nền y học cổ truyền (YHCT) hơn 4000 năm [5] dựa trên cơ sở lý luận của Tứ chẩn (vọng-nhìn; văn-nghe, ngửi; vấn-hỏi; thiết-sờ, bắt mạch) và Bát cương (biểu, lý-ngoài, trong; hàn, nhiệt-lạnh, nóng; hư, thực-mạn, cấp; âm, dương-đại diện cho xu thế bệnh tật [13]) đã sử dụng các triệu chứng lâm sàng như một ghi nhận nhằm xác định chẩn đoán [8]. Đối với CKD, “tiểu không thông và nôn không ngừng” là hai chủ chứng chính được y văn ghi nhận, và chứng hậu “Quan cách” được nhắc đến tương ứng với sự hư tổn của Thận và mất kiện vận của Tỳ ở giai đoạn muộn [28] cùng với Thủy thũng, Long bế và Lâm chứng lâu ngày tiến triển mà thành. Bởi vậy, quan điểm được xây dựng trong điều trị là sự tái lập thăng bằng âm dương [25] và tập trung vào tình trạng tổng thể của người bệnh hơn là từng bệnh cụ thể [13]. Nhận thức được vai trò quan trọng đó, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu theo dõi dọc trên 121 bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn 5 đang lọc máu tại khoa Thận-Tiết niệu và lọc máu Bệnh viện E trong thời gian từ tháng 9/2017 đến hết tháng 8/2018 nhằm khảo sát chứng hậu và mối liên quan với thời điểm điều trị thay thế thận. Kết quả: Số chứng trạng lâm sàng quan sát được/ghi nhận được theo bốn chứng hậu chính bao gồm Quan cách, Thủy thũng, Long bế, Lâm chứng là 121 trên tổng số 139 chứng trạng thống kê được trong y văn (sau khi đã bỏ đi những biến trùng nhau trên tổng số 260 chứng trạng thống kê được). Phân bố chứng trạng theo chứng hậu chủ chứng: Nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc: Tiểu ít/Vô niệu chiếm tỷ lệ 67,4%; Phù thũng 30,3%; Tiểu không thông 10,1%; Buồn nôn/Nôn 8,9%. Nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối được chẩn đoán mới: Tiểu ít/Vô niệu chiếm tỷ lệ 100%; Phù thũng 87,5%; Tiểu không thông 9,4%; Buồn nôn/Nôn 12,5%. Chứng trạng lâm sàng chỉ điểm quyết định điều trị thay thế thận là tiểu ít/vô niệu (100%), mệt mỏi (90,1%); phù (85,7%) phối hợp.
Từ khóa: Bệnh thận mạn.
SUMMARY
“Chronic Kidney Disease (CKD)” is an additional term for the definition of chronic kidney failure (Chronic Renal Failure (CRF), first used in the diagnostic guidelines of the K/DOQI 2002 [17]. In 2003, the KDIGO added the criteria for a kidney transplant as a CKD group [14]. Due to evidence related to mortality differences, KDIGO’s new 2012 guidelines confirm CKD to be structural or functional abnormalities that last for more than 3 months and affect patient health; At the same time, CKD is divided into 5 stages (G1, G2, G3a, G3b, G4, G5) based on glomerular filtration rate, together with the addition of albuminuria to the classification to support the prognosis and evolution disease [15]. Therefore, the disease progresses silently, with poor symptoms, patients often show little interest and renal failure is only detected in the late stages, clinically frantic with edema, dyspnea and anuria [3]. Recently, several trials such as SKS (2015) [20], VA (2016) [26], IDEAL (2017) [22], demonstrated no difference in mortality risk [23] between groups. were early intervention (estimated glomerular filtration rate (eGFR) from 10 - 15ml/ minute/1.73m2) and the late intervention group (eGFR from 5-7ml/minute/1.73m2) [11], simultaneously with the fact that clinical recommendations guide the symptom burden review [15] to determine when patients are required to undergo Renal Replacement Therapy (RRT) (artificial kidneys, dialysis) [4]), thus forming different views on the use of estimates of glomerular filtration as a key guide for initiating maintenance dialysis [18].
Because of the particularities of history, traditional medicine for more than 4,000 years [5] is based on the theoretical basis of the four diagnosis (vision; listening, smelling; questioning, touching, and Eight-Tails (external-internal; heat-cold, acute-chronic; yin-yang-representing the disease trend [13]) used Clinical symptoms as a note to confirm the diagnosis [8]. For CKD, “incessant urination and relentless vomiting” were the two main drivers noted by the literature, and the post-”Quan cach” mentality corresponded to the damage of the kidneys and the loss of Spleen’s the late stage [28] together with “Thuy thung”, “Long be” and “Lam chung” have progressed to a long time. The established view of treatment is to reestablish yin and yang balance [25] and focus on the overall condition of the patient rather than each specific disease [13]. Recognizing that important role, we conducted a cross-sectional descriptive cross-sectional study on 121 patients with stage 5 chronic renal disease undergoing dialysis in the Department of Kidney-Urology and Dialysis - E Hospital for the period from September 2017 to the end of August 2018 to examine the aftermath and the relationship with the time of kidney replacement therapy. Results: The number of clinical conditions observed/recorded according to the four main conditions including “Quan cach”, “Thuy thung”, “Long be”, “Lam chung” is 121 out of 139 statistical conditions reported in the literature (after discarded the overlapping variables out of 260 statistical conditions). Distribution of conditions by post-control syndrome: Group of patients with end-stage renal disease undergoing filtration: Minor/Anuria accounts for 67.4%; Edema 30.3%; Urine incontinence 10.1%; Nausea/Vomiting 8.9%. The group of patients with end-stage chronic kidney disease was newly diagnosed: Little urine/Anuria accounts for 100%; Edema 87.5%; Urinary incontinence 9.4%; Nausea/Vomiting 12.5%. The clinical condition indicating the decision to replace kidney is minor/anuria (100%), fatigue (90.1%); edema (85.7%) in combination.
Key words: chronic kidney disease.