Menu

Đường dây tiếp nhận ý kiến
0983609369 [email protected]
Số ISSN: 2525-2542; ISSN: 3030-4032
Journal of Endocrinology and Health Science
Số ISSN: 2525-2542; ISSN: 3030-4032
Journal of Endocrinology and Health Science
Menu
×
Tập 25, Số 2 (2025)
PDF
  • Ngày xuất bản: 2025-06-30
  • Lượt xem: 0
  • DOI:
Số xuất bản
Trích dẫn bài báo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. S. M. Saw, J. Katz, O. D. Schein et al (1996). “Epidemiology of myopia”, Epidemiol Rev. 18(2): 175-87.

2. B. A. Holden, T. R. Fricke, D. A. Wilson et al (2016). “Global Prevalence of Myopia and High Myopia and Temporal Trends from 2000 through 2050”, Ophthalmology. 123(5): 1036-42.

3. Bệnh viện Mắt Hà Nội 2 (2024). “Thực trạng cận thị ở Việt Nam, thống kê tỷ lệ năm 2024”.

4. M. H. Hansen, P. P. Laigaard, E. M. Olsen et al (2020). “Low physical activity and higher use of screen devices are associated with myopia at the age of 16-17 years in the CCC2000 Eye Study”, Acta Ophthalmol. 98(3): 315-321.

5. Mai Viết Kiên, Trương Viết Trường, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa và cộng sự (2023). “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng cận thị học đường ở học sinh trung học phổ thông chuyên Thái Nguyên”, Tạp chí Y học Việt Nam. 528(2).

6. Morgan IG, He M, Rose KA. (2017). Epidemic of pathologic myopia: What Can Laboratory Studies and Epidemiology Tell Us? Retina. 2017 May;37(5):989- 997. doi: 10.1097/IAE.0000000000001272. PMID: 27617538.

7. Nguyễn Ngọc Nghĩa, Vương Thị Yên (2024). Kiến thức và thực hành phòng chống cận thị học đường của học sinh trường THCS Thọ Vinh huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam, tập 2 số tháng 8/2024. 72-76.

8. Scott HK, Cogburn M. Piaget (2023). Jan 9. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2025 Jan–. PMID: 28846231.

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC MẮT CẬN THỊ CỦA HỌC SINH THCS VÀ THPT ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN MẮT HẢI PHÒNG NĂM 2025

LÊ THỊ THU TRANG, HOÀNG CƯƠNG, VƯƠNG THỊ HÒA

TÓM TẮT

Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tự chăm sóc mắt cận thị của học sinh trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) đến khám tại Bệnh viện Mắt Hải Phòng năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 316 học sinh THCS và THPT đến khám tại Bệnh viện Mắt Hải Phòng trong thời gian từ tháng 1/2025 - 6/2025. Số liệu sau thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0. Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Thăng Long trước khi tiến hành. Kết quả: Trong 316 đối tượng học sinh cận thị, có 170 em (53,8%) là học sinh THCS và 146 em (46,2%) là học sinh THPT. Nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam ở cả hai cấp học (tương ứng 60,1% và 39,9%). Có 43,7% học sinh phát hiện cận thị từ 6 tháng trở lên. Tỷ lệ đạt mức “đạt” về kiến thức tự chăm sóc mắt cận thị là 79,3%, thái độ ở mức “đạt” là 63,9% và thực hành có 77,5% ở mức “đạt”. Một số yếu tố có liên quan tới kiến thức tự chăm sóc mắt cận thị có ý nghĩa ghi nhận được bao gồm: Cấp học THPT (OR=3,08; 95%CI=1,20- 3,01), Tình trạng cận hai mắt (OR=1,64; 95%CI=1,01-2,90) và tiền sử gia đình có người cận (OR=4,44; 95%CI=1,16-2,98). Các yếu tố liên quan đến thực hành tốt hơn bao gồm: Cấp học THPT (OR=2,59; 95%CI=1,13-2,81), Tiền sử gia đình có người cận (OR=3,09; 95%CI=1,93-2,36) và kiến thức đạt về tự chăm sóc (OR=14,02; 95%CI=5,3-15,28). Kết luận: Có mối liên quan giữa một số yếu tố như gia đình có người cận thị, học sinh trung học phổ thông, tình trạng cận hai mắt với kiến thức, thực hành của học sinh phổ thông. Đề xuất tăng cường hoạt động giáo dục sức khỏe mắt tại trường học, khuyến khích học sinh thực hiện nghỉ ngơi mắt hợp lý, đeo kính đúng độ và khám mắt định kỳ tại các cơ sở nhãn khoa uy tín.

Từ khoá: chăm sóc, cận thị, kiến thức, thực hành

SUMMARY

Objective: To analyze factors associated with knowledge and practices of self-care for myopic eyes among lower (LSS) and upper secondary students (USS) attending Hai Phong Eye Hospital in 2025. Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 316 LSS and USS students who visited Hai Phong Eye Hospital from January to June 2025. Collected data were processed using SPSS 22.0 software. The study was approved by the Ethics Committee of Thang Long University prior to implementation. Results: Among the 316 myopic students, 170 (53.8 %) were in lower secondary school (LSS) and 146 (46.2 %) in upper secondary school (USS). Females accounted for a higher proportion than males at both educational levels (60.1% vs. 39.9%, respectively). 43.7% of students had been diagnosed with myopia for six months or longer. The proportion achieving an ‘adequate’ level of knowledge regarding myopic eye self-care was 79.3%, while 63.9% demonstrated an ‘adequate’ attitude, and 77.5% exhibited ‘adequate’ practices. Several factors were significantly associated with knowledge of myopia self-care, including: high school education level (OR=3,08; 95% CI=1,20–3,01), bilateral myopia (OR=1,64; 95% CI=1,01–2,90), and family history of myopia (OR=4,44; 95% CI=1,16–2,98). Factors associated with better self-care practices included: high school education level (OR=2,59; 95% CI=1,13–2,81), family history of myopia (OR=3,09; 95% CI=1,93–2,36), and adequate self-care knowledge (OR=14,02; 95% CI=5,3–15,28). Conclusion: A demonstrated association exists between certain factors – including a family history of myopia, upper secondary school level, and bilateral myopia – and students’ knowledge and practices regarding myopia. It is recommended to enhance school-based ocular health education programs, promote appropriate ocular breaks, ensure correct spectacle compliance, and encourage regular eye examinations at reputable eye care facilities.

Keywords: care, myopia, knowledge, practice